XA HUẾ - Huy Phương
Chúng ta mỗi người xa Huế hay bỏ
Huế ra đi một cách, phần đông là theo con đường học vấn hay hoạn lộ, vào Saigon
hay ra ngoại quốc, đẩy đưa theo công ăn việc làm. Cũng có người vì hoàn cảnh
chiến tranh, đưa tới những vùng chiến thuật xa xuôi, dần dà đi xa Huế. Phần
đông tất cả đều tùy hoàn cảnh sinh cơ lập nghiệp, thì thôi chỗ nào cũng là quê
hương, ai cũng lấy làm mừng không phải chịu cái cảnh công danh thụt lùi phải
quay lại Huế. Ai cũng nói thương Huế, nhớ Huế nhưng mấy ai có cái ý muốn được
đổi về làm việc hay sinh sống tại Huế. Trên đường lập nghiệp, có người vui duyên
mới, phụ tình xưa, còn đâu ngày trở về để tính chuyện trâu đồng nào ăn cỏ đồng
nấy.
<!>
Trước hết, Huế như một người tình
bị phụ bạc. Người ta nói cái xứ đó đi để mà nhớ, chứ không phải ở để mà thương,
câu nói đầy vẻ ruồng rẫy hất hủi. Dù đó là một người đàn bà nhan sắc, đức hạnh, tài hoa đến chừng
nào, mà phải chịu cảnh hất hủi, phũ phàng như vậy thì chẳng ai chịu mơ ước đổi
lấy số phận của nàng. Phải chi nàng là một người đàn bà cục mịch, quê mùa xấu
xí cho đành, trái lại nàng cũng là thuộc kim chi ngọc diệp, quốc sắc thiên
hương, cầm kỳ thi họa. Nhưng nàng cũng mang số phận của nàng Kiều, đã mang lấy
nghiệp vào thân ... Trời đã có luật bù trừ, hay trời đã ghen cả với nàng… trời
đã ban cho nàng một tính tình bất thường, khó chịu. Nàng khóc cười bất chợt, nàng
không kềm chế nổi cơn giận giữ hay buồn phiền, khuôn mặt của nàng thay đổi, héo
khô hay sũng nước.
Không phải không có lúc nào nàng tỏ
ra hiền thục, dịu dàng, nhưng những ai đã sống lâu với nàng, nhận ra khoảng
khắc ấy thật chẳng có là bao. Rồi bao nhiêu người đã ra đi, mang theo mối tình
ngậm ngùi xót xa đối với nàng, thà xa nàng để thương để nhớ, còn hơn là sống
bên nàng, và dù trong hoàn cảnh như thế,
không ai quên được nàng, vì lấy nhau không đặng, cũng thương hoài ngàn năm. Đó
chính là Huế của chúng ta.
Chúng ta đã có bao nhiêu mỹ từ để nói tới tấm
lòng thương nhớ đó: Huế Sống Mãi Trong Chúng Ta - Thương Về Xứ Huế - Nhớ Huế
... nhưng có ai chịu dừng bước giang hồ,
gói gọn hành trang tìm về quê cũ, chốn quê hương đẹp hơn cả, để sống cho trọn
mối tình đối với Huế.
Thế những người đã sống chết với
Huế trong bao nhiêu năm nay, chịu bao nhiêu cảnh trái ngang khổ đau với Huế
nghĩ sao về chúng ta, những người xa Huế. Họ cho chúng ta là những người may
mắn hơn họ. Không ai muốn sống đời với Huế, chẳng qua là số phận đã trói buộc
con người với mảnh đất quê hương. Người Huế ở Sàigòn về Huế đã khác xa người
vốn ở Huế, người ở ngoại quốc về Huế lại càng khác xa hơn. Người ở lại Huế thèm
số phận của những người đã bỏ Huế ra đi, người ra đi vẫn thấy có chút xót xa
tội nghiệp cho những người ở lại. Có cái gì cách biệt pha chút đau đớn cho
người ở lại kẻ ra đi như thế. Huế với cảnh nắng giãi mưa dầu, Huế với cảnh bão
tố lụt lội, Huế với cảnh hạn hán thiên tai, Huế với cảnh chiến tranh loạn lạc.
Kể làm sao cho xiết những nỗi tai ương hiểm họa từ trời đất giáng xuống, từ con
người tạo nên cho thân phận của Huế. Tuy vậy ở đâu cũng có những con người suốt
đời chôn chặt cuộc đời trên mảnh đất cha ông. Những thế hệ trước chúng ta, họ
đã sống và chết với Huế như bao nhiêu thế hệ nông dân ngày trước đã sinh ra,
lớn lên và chết dưới cùng một mái nhà với nhau. Cha tôi ngày trước, khi nghe
tin tôi sau khi ra trường muốn được đi làm và sinh sống tại một tỉnh khác, ông
đã yên lặng thở dài và buồn phiền không ít. Điều ông thất vọng nhất về những đứa con là chúng không muốn
sống quanh quẩn bên ông. Quả như thế, lúc ông nằm xuống một ngày mà hoàn cảnh
khá đen tối sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, chỉ có một người con duy
nhất bên cạnh ông. Đó chính là đứa con ở lại.
Gia đình nào trong những ngày giỗ
Tết thường chịu cảnh quạnh hiu lại thường là những gia đình có con cái ăn nên
làm ra, hầu hết đều tha phương tứ xứ. Ngày xưa là ở tại các tỉnh miền Nam, bây
giờ là tản mác trên khắp thế giới. Và hẩm hiu thay vẫn là những người ở lại,
suốt đời nhiều khi không có được một bữa cơm no, và mỗi khi mùa màng thất bát,
thiên tai đe dọa triền miên, không hạn hán mất mùa thì bão lụt giá rét.
Ngày xưa thuở mới lớn, những ngày
nghỉ học, lũ học trò chúng tôi vẫn đi
lại quanh quẩn trong cái thế giới nhỏ hẹp của Huế ở hai con phố chính: Trần
Hưng Đạo và Gia Long (ngã giữa), thơ thẩn la cà vào các nhà sách Ưng Hạ, Tân
Hoa, Lê Thành Tuân, Bình Minh lật xem những trang sách báo mang từ Sàigòn ra,
nghĩ tới cái hình ảnh rộn ràng tấp nập của kinh đô miền nam nắng ấm, hay mê xem
các cuốn phim với chiếc vé rẻ tiền trên những chiếc băng hạng chót của rạp Tân
Tân để mơ ước tới cái thế giới xa xuôi. Đêm về, trong sự yên tĩnh của Huế, nghe
vọng lại tiếng còi tàu kêu lời từ giả ra đi trên sân ga, tôi vẫn thầm mong có
một ngày mình được xa Huế, và những năm sau đó lớn lên, tôi đã được toại
nguyện. Số phận những ngày sau đó lại
đẩy tôi đi những bước xa hơn, những bước xa mà tôi không hề mơ ước ...
Quả là một sự bội bạc ruồng rẫy của một đứa con xứ Huế, mặc dù tấm lòng lúc nào
cũng nghĩ đến Huế nhưng lại mong muốn bỏ Huế ra đi.
Thế mà sao bây giờ đến lúc xế chiều
người ta lại muốn trở về Huế một ngày như một tín đồ hành hương về thánh địa.
Tôi không phải là một đứa trẻ mù muốn mở mắt để nhìn lại khuôn mặt mẹ, những gì
của Huế hãy còn in đậm nét trong tôi, có điều bây giờ chắc những điều ấy đã
khác xa trong thực tế nhiều vì sự vật đã
biển dâu, thời gian đã thay đổi, hay chính tại chủ quan của tâm hồn mình.
Không, tôi hy vọng là mọi sự vẫn còn y như thuở ban sơ: cái mát lạnh của hơi
đồng trên những khẩu thần công buổi trưa hè, tiếng ve mùa hạ và hương thơm dịu
dàng của những đóa sen trong hồ Tịnh, mùi vị của sông Hương và hình ảnh những
nhịp cầu Trường Tiền bạc sáng ướt đẫm ánh trăng. Còn bao nhiêu điều nữa thiết
tha về quê hương ngày trước, những điều đã gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong tâm
hồn những người đã sinh ra và lớn lên ở
Huế ?
Về để tìm lại hýõng thõm trong chén
trà ýớp mộc của ông nội, về để tìm lại những thổn thức bên hòn non bộ xanh rêu
có hai ông tiên đang dở cuộc cờ, về để nghe tiếng con mèo gừ gừ quanh quẩn bên
chân mẹ bên mâm cơm chiều, về để tìm lại hơi nóng trong hai chiếc túi đựng đầy
bắp rang những ngày nghỉ học vừa mưa vừa lạnh. Nhưng những rung động của một
thuở nào xa xưa phải chăng không còn nguyên vẹn ở trong chúng ta. Những cung
điện đền đài, những hào sâu, những cổng thành, những hồ sen, những con đường,
ngày xưa là cả một cái gì to lớn, vĩ đại trước mắt, bây giờ trở lại với quê
hương nhỏ bé ấy, lòng chúng ta còn giữ được cái nhìn và tấm lòng như ngày trước
không?
Những con đường ngày xưa có lẽ vẫn
còn đó, mùa hè hoa phượng vẫn vô tư nở và tàn lặng lẽ như những mối tình thuở
học trò, tiếng ve vẫn rộn ràng khi cơn gió hạ tới âm vang trong những khu vườn
xanh mướt u tịch ... Chiếc cầu, con sông, ánh trăng có lẽ cũng chẳng có gì thay
đổi. Sông núi dễ chừng không mấy đổi thay, vật thể suy tàn theo thời gian,
nhưng còn những con người, những con người của một thuở nào xa xưa nay còn hay
mất. Những hình ảnh cố nhân lẫn với ngậm ngùi: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
đào hoa y cựu tiếu đông phong”.
Trở về chốn xưa ... Đã bao nhiêu lời thơ, ý
nhạc gởi gắm trọn cho tấm lòng đau xót của người đã ra đi, tiếc nuối và mơ ước
có một ngày trở lại. Như người ra đi hẹn một ngày về, như người xa quê vẫn muốn
gởi gắm tấm lòng để hỏi câu ai về xứ Huế ...
Huyền Trân ngày xưa nước non ngàn
dặm ra đi, nặng bên tình bên nước. Nàng sẽ không bao giờ trở về nếu định mệnh
không đưa đẩy nàng lên dàn hỏa để cùng về bên kia thế giới với Chế Mân, khiến
Vua Cha phải gởi Trần Khắc Chung sang để tìm cách cứu nàng. Huyền Trân ra đi từ
lúc còn đương độ xuân thì, má hồng da tuyết, ra đi để đền nợ Ô Ly. Chúng ta bỏ
Huế từ tuổi đôi mươi, vì định mệnh, vì
số phận nổi trôi, hay ... vì món nợ cơm áo, đường trần còn mơ khanh mơ tướng, phút chốc ngoảnh lại
tóc đã điểm sương mà quê hương đã ngàn dặm xa, lòng sao khỏi ngậm ngùi thương
nhớ.
Trên quả đất này, ai cũng có một
quê hương, nhưng chúng ta là những người có quê hương là Huế sao vẫn thường có
những nỗi băn khoăn ray rứt không bao giờ phai nhạt. Phải chăng những mối tình
buồn bao giờ cũng để lại nhiều ấn tượng sâu xa hơn là những mối tình trọn vẹn.
Huế oan khiên, Huế bất hạnh ... nhưng Huế quả đã để lại trong lòng chúng ta
những nỗi nhớ khôn nguôi.
2002
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét