Đi Lấy Chồng Xa - Huy Phương
“Lấy chi trả thảo cho cha,
Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng”
(Ca dao)
Lúc tôi mới lên ba thì chị đã mười
tám tuổi. Ngày ấy khi cha tôi dạy học ở Bố Trạch, Quảng Bình thì chị tôi theo
chồng về tỉnh lỵ Đồng Hới, con đường từ nhà mẹ ra nhà chồng cũng chẳng bao xa.
Tôi nghe nói ngày chị đi lấy chồng, mẹ tôi khóc nhiều vì chị là con đầu lòng,
mà chị tôi cũng sụt sùi không kém. Vài năm sau, cha tôi đổi về quê quán Thừa
Thiên cho gần gũi với bên nội, thì khoảng cách giữa chị tôi và gia đình xa thêm
một khoảng đường. Năm 1954, đất nước bị chia cắt, chị tôi và mẹ ở hai miền Nam
Bắc phân ly không hy vọng có ngày đoàn tụ.
<!>
Trong suốt một thời gian dài, mẹ
tôi xót xa coi như mất một đứa con không bao giờ có thể thấy mặt lại. Hai mươi
mốt năm sau, khi chị tôi về lại quê nhà thì cha mẹ tôi đã qua đời. Dù có hạnh
phúc với chồng con đi nữa, suốt cuộc đời, chị tôi vẫn mang trong lòng một sự ân
hận, là phải đi lấy chồng xa để khuya sớm không được gần gũi với cha mẹ. Và mẹ
tôi trước khi thở hơi cuối cùng giã từ cuộc đời vẫn thường nhắc đến chị tôi,
trong lòng còn thương nhớ khôn nguôi.
Ngày cha tôi từ giã cõi đời, con
cái ông đang ở mỗi đứa một nơi, đứa cam phận tù đày, đứa phiêu bạt rời bỏ quê
hương, trong những ngày hiu quạnh cuối cùng chắc ông buồn lắm. Thế hệ ngày
trước, lớn lên, sống và chết trong cùng dưới một mái nhà, có lẽ không ai muốn
con thành đạt để đi xa, mà chỉ muốn con cái quanh quẩn bên cạnh như đàn gà dưới
cánh mình, dù đôi lúc sức lực cha mẹ không còn che chở được gì cho con cái..
Không ai muốn gã con đi lấy chồng
xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gã con thì gã chồng gần, có bát
canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con,
gia đình: “mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”
Có phải ngày nay tấm lòng con không
phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, hay là vì tấm lòng cha mẹ
đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt
xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai,
Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không
hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ
dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa”, đương nhiên phản ảnh con người và tư
tưởng của cái xã hội ấy.
Trong cái xã hội mới cách đây vài
chục năm ngắn ngủi thôi, cái lễ nghĩa, liêm sĩ khi trong một gia đình có đứa
con gái gọi là “bị chữa hoang” hay “làm đĩ” được coi là “bôi tro trát trấu” lên
mặt mày cha mẹ và danh giá gia đình, thì ngày nay nói lại là chuyện đương
nhiên, nếu việc ấy đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể
cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh
diện ngẫng cao hơn. Có nỗi đau đớn nào hơn:
- “Mẹ cha ơi hỡi mẹ cha,
Nghèo gần không gả, giàu xa đem đày!”
- “Mẹ em thấy của thì ham
Hang hùm cứ tưởng hang vàng ép con.
Nói ra thẹn với nước non
Ngậm vào cay đắng lòng con đêm
ngày!”
Trong truyện Kiều, vướng nỗi oan
ức, “....thằng bán tơ kia giở giói ra, làm cho bận đến cụ Viên già” thì nàng
Kiều mới đành phải bán mình chuộc cha. Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô
Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa
quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô
đưa là nghèo đói làm không ra ăn, không đủ tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa
nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh
chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm
súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho
nhiều gia đình.
Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ
McGovern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà
những người có liêm sĩ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán
thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai
nữa!
Ngày nay những người chị của tôi
lớn lên trong tuổi thanh xuân sẽ không có mối tình duyên đẹp đẽ, hoa mộng nào
nữa. Chị lo trau dồi sắc đẹp, giữ gìn thể xác và nguyện lòng chẳng hề yêu ai,
để một ngày kia chị sẽ không còn nỗi vướng bận nào khi chị ra đi, làm như đời
chị sinh ra được sắp đặt tới một tháng ngày nào đó, như một món hàng, người ta
xuất cảng chị ra nước ngoài, để đem về cho chính phủ của chị một món ngoại tệ,
cho cha mẹ một số tiền trả ơn trả nghĩa phải chăng. Có hàng nghìn người chị đã
bỏ xóm làng ra đi, chị bỏ cái cuốc cầm tay, gánh hàng trên vai hay mái chèo nơi
một con đò ven sông, và nhất là chị phải bỏ những mối ràng buộc yêu thương,
liên hệ gia đình để tới một nơi xa lạ, lạ những phong cảnh, thế tục, lạ cả
tiếng người. Cũng có thể những người chị này đã để lại bao nhiêu mối tình thơ
mộng sau lưng cho những chàng trai đã ngày nào yêu chị. Rút cuộc, người ta nhận
ra rằng, không còn gì giữ chân chị lại được, ngoài đồng tiền ra.
Ngày nay không phải thân phận chị
chỉ được rao bán tại quê nhà mà chị như kiện hàng được đem ra nước ngoài, để
trên kệ hàng, tủ kính có ánh đèn màu hấp dẫn, có ghi giá cả như con cừu trong
chợ gia súc hay món thịt đông lạnh trong cửa hàng thịt. Phải nói chị sinh ra
không gặp thời, chị lớn lên trong lúc người ta cần những thứ hàng xuất khẩu.
Anh em chị, người sang đông, kẻ sang tây đổ máu mắt, mồ hôi mới có miếng ăn,
đồng tiền trả nợ, đồng tiền ơn nghĩa ngay cho những thế lực đã mang bán các anh
em họ hàng ra đi. Chị cũng như món hàng. Ngày xưa mẹ có rổ rau, buồng chuối hay
con gà, cặp vịt đem ra chợ bán, để có đồng tiền mua lại mớ tôm, con cá, hay may
cho chị manh áo mới, mua cái lược, cái
gương soi. Ngày nay, có lẽ không còn gì hay sao mà cha mẹ lại đành lòng bán chị
đi. Ngày xưa, nuôi được con heo nái đẻ con, lúc bán đàn heo con đi, mẹ cầm xấp
bạc trong tay mà thở dài, bây giờ bán chị đi, lòng mẹ có buồn nghìn lần hơn thế
không?
Sự biến đổi đau lòng nhất là những
người chị của tôi có lẽ không biết buồn dù có “nước non nghìn dặm ra đi” tới
nơi xa xôi. Sống trong thời đại mới, biết đâu chị còn hãnh diện hơn đám bạn bè
hay lối xóm xấu xí, vô phước nghìn lần hơn chị, ngày chị ra đi, họ vẫn chân lấm
tay bùn, bàn chân nứt nẻ trong nước đồng ruộng hay trên sông rạch nghèo nàn quê
mùa, ngày hai buổi chợ. Tôi thực sự buồn cho nỗi buồn của chị thì ít mà buồn
cho tấm lòng chai đá của cha mẹ thì nhiều. Vương Ông thấy con mà “máu sa ruột
dàu”, còn cha mẹ chị bây giờ thì nghĩ sao? Rồi đây, mỗi chiều cơn nước ròng,
nước dẫy, con thuyền ra chợ còn mang theo tiếng hát của cô gái nghèo, sinh ra
lớn lên với ruộng đồng, sông rạch, có ai nhớ tới những người chị tôi đang ở một
phương trời nào đó, hạnh phúc hay khổ đau, làm người vợ chung thủy hay làm gái
đĩ cho ngoại nhân. Nhìn lại đất nước hằng trăm năm qua, kể cả những lúc quằn
quại vì ngoại xâm, đói nghèo tột độ, chưa lúc nào ai nói được nhân phẩm của
những người đàn bà như chị bị vùi dập như bây giờ, vào cái thời dân tộc đang có
cả ”độc lập” lẫn “hạnh phúc”!
Mai này, chị có thể là mẹ một bầy
con còn bập bẹ đôi tiếng Việt. Nhưng rồi qua một đời, hai đời, chị hòa tan vào
giòng máu ngoại tộc, từ miếng ăn thức uống, đến chiếc áo mảnh khăn, người ta
may ra chỉ còn nhớ tới chị như một người đàn bà đã lâu lắm, từ một đất nước nào
đó tới đây, một đất nước rất cần tiền nên phải bán chị đi.
Chị như cánh lục bình rời xa con
rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông rồi, sẽ không bao giờ có thể trở lại
nhánh sông xưa. Thương chị, lòng tôi ray rứt, không yên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét